Skip to main content

Giải pháp áp dụng Luật Hòa giải, đối thoại vào thực tiễn, hướng tới xây dựng Tòa án thân thiện

(16/08/2020 21:31)

Hòa giải, đối thoại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống, phù hợp với tâm lý, tình cảm và văn hóa của người Việt Nam. Hòa giải, đối thoại có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Với cách thức thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, hòa giải, đối thoại góp phần hành gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Hòa giải thành, đối thoại thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải đưa ra xét xử; kết quả hòa giải, đối thoại thành phần lớn được các bên tự nguyện thi hành, vụ việc được giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của người dân và Nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận. Vì vậy đối với Tòa án, đổi mới tăng cường và nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại là giải pháp cơ bản, giúp giải quyết khối lượng công việc ngày càng nặng nề trong bối cảnh hàng năm các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính không ngừng tăng lên cả về số lượng và tính chất phức tạp.

abc.png

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội thông qua

1. Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 16 tháng 6 năm 2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021

Để đảm bảo triển khai thi hành Luật kịp thời, thống nhất và hiệu quả, ngày 17/7/2020 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 187/QĐ-TANDTC về việc “Triển khai thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án”.

Luật Hòa giải, đối thoại gồm 04 Chương, 42 Điều, quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại; trách nhiệm của Tòa án đối với hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án. Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; đơn khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Tại Điều 3 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định 09 nguyên tắc hòa giải, đối thoại; trong đó nguyên tắc tự nguyện, nguyên tắc bảo mật thông tin và nguyên tắc linh hoạt trong phương thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án là 03 nguyên tắc cơ bản nhất.

Chính sách của Nhà nước trong Luật là khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại; khuyến khích những người đủ điều kiện theo quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án làm Hòa giải viên; tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Để khuyến khích hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Nhà nước bảo đảm kinh phí hòa giải, đối thoại từ ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án do ngân sách Nhà nước bảo đảm; trừ các trường hợp sau đây thì chi phí hòa giải, đối thoại do các bên tham gia hòa giải, đối thoại chịu: (1) Chi phí hòa giải đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại có giá ngạch; (2) Chi phí khi các bên thống nhất lựa chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; chi phí khi Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính mà tài sản đó nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở; (3) Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài.

Hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án là hoạt động gắn với Tòa án, do Tòa án nhân dân tổ chức thực hiện. Do vậy, Luật quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án, gồm: (1) Tổ chức, quản lý hoạt động hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật: Chỉ định, hỗ trợ, hướng dẫn Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại; đánh giá, nhận xét kết quả hoạt động của Hòa giải viên; bố trí địa điểm, trang thiết bị và điều kiện bảo đảm khác cho hoạt động hòa giải, đối thoại; đề xuất, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án theo quy định của pháp luật; (2) Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, xóa tên Hòa giải viên; cấp, thu hồi thẻ Hòa giải viên; khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động hòa giải, đối thoại; (3) Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải, đối thoại cho Hòa giải viên; (4) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật.

C:\Users\Administrator\Desktop\tải xuống (1).jpgC:\Users\Administrator\Desktop\tải xuống (2).jpg

(Hình ảnh minh họa)

Một trong những chính sách được thể chế tại Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là thu hút, huy động nguồn nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm trong xã hội tham gia phối hợp cùng Tòa án tiến hành hòa giải, đối thoại để giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính. Các điều kiện cần và đủ để được bổ nhiệm làm Hòa giải viên được quy định tại Điều 10 của Luật.

Phương thức hòa giải, đối thoại linh hoạt là một đặc điểm nổi bật của cơ chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án; việc tiến hành hòa giải, đối thoại không bị gò bó theo trình tự, thủ tục chặt chẽ như quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính mà người Thẩm phán phải tuân theo khi tiến hành hòa giải, đối thoại trong tố tụng. Trong quá trình hòa giải, Hòa giải viên được điều chỉnh các phương pháp, thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải phù hợp với điều kiện của các bên, nhằm đạt được kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

2. Quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải, đối thoại giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính

2.1 Hòa giải, đối thoại trong tố tụng

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định hòa giải là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định chế định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, quyết định công nhận hòa giải thành của Tòa án có hiệu lực thi hành.

Luật Tố tụng hành chính quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự đối thoại để giải quyết vụ án hành chính. Hoạt động đối thoại giữa người khởi kiện và người bị kiện là thủ tục bắt buộc trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án hành chính.

2.2 Hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng

Đối với hoạt động hòa giải, pháp luật hiện hành quy định một số cơ chế hòa giải ngoài tố tụng, cụ thể: Hòa giải ở cơ sở theo quy định Luật hòa giải ở cơ sở; hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể (về quyền, lợi ích) theo quy định của Bộ luật lao động; hòa giải thương mại theo quy định của Luật thương mại; hòa giải tranh chấp đất đai tại Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định của Luật đất đai…Trong đó, hòa giải trước tố tụng đối với một số tranh chấp là thủ tục bắt buộc trước khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, được gọi là thủ tục tiền tố tụng.

Đối với hoạt động đối thoại, pháp luật hiện hành quy định một số cơ chế đối thoại ngoài tố tụng như đối thoại giữa người người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật khiếu nại.

Như vậy, pháp luật hiện hành chưa quy định về cơ chế hòa giải, đối thoại đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đã có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết trước khi Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng.

3. Thực trạng giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu khiện hành chính thông qua hòa giải, đối thoại

Trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhiều năm qua hoạt động hòa giải, đối thoại trong tố tụng đã thu được kết quả đáng kể. Theo thống kê, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Nam hòa giải trong tố tụng các vụ việc dân sự, hành chính, cụ thể: Năm 2017 là 668 vụ việc; năm 2018 là 721 vụ việc; năm 2019 là 796 vụ việc. Kết quả này có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết các xung đột trong nhân dân; chấm dứt quá trình tố tụng, tiết kiệm thời gian, kinh phí của đương sự và Nhà nước; xây dựng tình làng nghĩa xóm hòa thuận, hàn gắn tình cảm của nhiều gia đình, góp phần đảm bảo an ninh trật tự ở địa phương.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế của các phương thức hòa giải, đối thoại, cụ thể: (1) Chứng cứ do các bên đương sự cung cấp trong tâm thế thắng thua, thường không đầy đủ, còn che giấu, thậm chí ngụy tạo; (2) không linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương thức tiến hành; (3) Thẩm phán tiến hành hòa giải, đối thoại phải chấp hành quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán nên không thể linh hoạt trong việc đưa ra các lời khuyên, phương án giải quyết tranh chấp để các bên thảo luận, lựa chọn; (4) thời gian, công sức dành cho hòa giải, đối thoại còn hạn chế; (5) các khiếu khiện hành chính thường vắng mặt người bị kiện; (6) các Trung tâm hòa giải thương mại và trọng tài còn ít; (7) hòa giải thành ở cơ sở phần lớn là những va chạm, xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư, không phải là các tranh chấp, khiếu kiện đến mức phải giải quyết bằng quy trình tố tụng.

Chính vì vậy, số lượng các vụ việc tại Tòa án nhân dân các cấp nói chung, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Nam nói riêng tăng lên rất nhanh, với tính chất ngày càng phức tạp. Việc tăng như vậy là tất yếu, tỷ lệ thuận với tăng dân số và quy mô nền kinh tế, Thẩm phán phải giải quyết số lượng vụ việc tăng gấp nhiều lần so với số lượng biên chế, dẫn đến án tồn đọng, kéo dài. Trước tình tình đó, bắt buộc phải có những giải pháp đẩy nhanh và hiệu quả việc giải quyết đơn của công dân, giảm áp lực cho Tòa án. Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 là một chế định ưu việt đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hòa giải, đối thoại tại Tòa án trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, hướng tới xây dựng Tòa án thân thiện

Trước khi Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình lên Quốc hội để thảo luận thông qua, Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân dân ở một số địa phương. Sau khi thí điểm thành công đã được các cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá là mô hình có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Kết quả thí điểm đã khẳng định những giá trị mà phương thức giải quyết tranh chấp này mang lại, cụ thể:

Phát huy tối đa tự do ý chí và khả năng tự định đoạt của các chủ thể tham gia với sự hỗ trợ chuyên nghiệp của các Hòa giải viên giúp các bên trao đổi, đàm phán với nhau, gợi ý về các giải pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp.

Đáp ứng được mong muốn của các bên tranh chấp: nhanh chóng, kín đáo và bảo mật thông tin; hài hòa lợi ích, tránh được tâm lý thắng thua, giữ được mối quan hệ giữa các bên.

Tạo sự tin tưởng cho các chủ thể trong quá trình hòa giải, đối thoại, đồng thời là thiết chế quan trọng để hỗ trợ các thỏa thuận được thực thi.

Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Kết quả giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, đối thoại qua quá trình thương lượng, có sự thỏa thuận, nhất trí của các bên nên có tính khả thi và được các bên tôn trọng tuân theo.

Giảm tải công việc và áp lực đối với công tác xét xử của Tòa án, hạn chế khiếu kiện kéo dài qua nhiều cấp, tiết kiệm được chi phí, công sức, thời gian của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Khắc phục được bất cập, nâng cao hiệu quả trong giải quyết các khiếu khiện hành chính.

Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, đối thoại là phương thức ít tốn kém.

Như vậy, việc áp dụng phương thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án với phương châm “hai bên cùng thắng” trong thời gian qua đã minh chứng hòa giải, đối thoại không chỉ là công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hòa giải mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp, khắc phục tình trạng tồn đọng án; thúc đẩy mối quan hệ kinh tế, xã hội phát triển, giảm chi phí cho xã hội.

Để triển khai, thực hiện tốt Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án trong thời gian tới, Tòa án nhân dân cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Tòa án nhân dân các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị truyền thông tuyên truyền, phổ biến luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, hoạt động triển khai luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thứ hai: Lãnh đạo Tòa án nhân dân các cấp chỉ đạo, tổ chức tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải, đối thoại cho Hòa giải viên. Thường xuyên mở hội nghị trao đổi, tọa đàm nghiệp vụ để tạo điều kiện cho Thẩm phán, Thư ký, Hòa giải viên nắm chắc các quy định của luật và các văn bản liên quan, đặc biệt là kỹ năng hòa giải về các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính.

Thứ ba: Xem xét, lựa chọn, đề xuất người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm Hòa giải viên theo quy định của luật để tập huấn, bồi dưỡng, bổ nhiệm làm Hòa giải viên.

Thứ tư: Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, kinh phí để triển khai luật. Sắp xếp, bố chí diện tích phòng làm việc phù hợp và các điều kiện cơ sở vật chất khác để phục vụ thi hành luật tại Tòa án kịp thời, thống nhất và đạt hiệu quả.

Thứ năm: Công tác dân vận trong quá trình thực hiện Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, đó là cần phát huy quyền làm chủ và quan tâm đến lợi ích hợp pháp của nhân dân. Cán bộ hòa giải, đối thoại là trung gian để hai bên đều được bày tỏ ý kiến, được quan tâm đến quyền và lợi ích. Hòa giải thành góp phần xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, cụ thể là xây dựng hệ thống Tòa án trong sạch vững mạnh, xứng đáng là nơi để nhân dân gửi gắm niềm tin và công lý. Hòa giải, đối thoại tại Tòa án chính là làm công tác dân vận, vì vậy cán bộ làm công tác hòa giải cần phải quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Thứ sáu: Khuyến khích, động viên khen thưởng kịp thời đối với Tòa án, Thẩm phán, Thư ký, công chức và Hòa giải viên có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ và cũng có chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động hòa giải, đối thoại.

Tóm lại: Hòa giải là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội; hòa giải thành sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của người dân cũng như của Nhà nước; bởi hòa giải là phương pháp giải quyết mâu thuẫn với cách thức thực hiện thân thiện, đồng thuận, đề cao sự chia sẻ, đặt lợi ích tinh thần lên trên lợi ích vật chất; kết quả hòa giải thành sẽ được các bên tự nguyện thi hành. Hòa giải, đối thoại như một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu suất hoạt động của Tòa án và hướng tới xây dựng Tòa án thân thiện.

Nguyễn Thị Tuyết - Nguyễn Thị Huyền Dung

Bộ phận Hành chính tư pháp TAND tỉnh


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 80
cdscv